Cảm xúc về bài thơ “Đò Lèn” - (Nguyễn Duy)

Chỉ là một giờ đọc thêm trong chương trình Ngữ văn 12, nhưng cứ đến bài thơ “Đò Lèn” của Nguyễn Duy, cả cô và trò chúng tôi đều nghẹn ngào và rưng rưng nước mắt...

Nguyễn Duy sáng tác bài thơ Đò Lèn năm 1983, khi ông trở về quê ngoại thăm bà sau bao năm xa cách nhưng bà đã không còn. Xuyên suốt bài thơ là hình ảnh Bà ngoại tảo tần nuôi cháu lớn khôn.

Mở đầu bài thơ, người bà hiện lên trong quá khứ với những trò nghịch dại, hồn nhiên, vô tư và vô tâm của người cháu

 " Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá

níu váy bà đi chợ Bình Lâm
bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật

và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần…”

Chi tiết " níu váy bà" hòa cùng các chi tiết về trò nghịch ngợm thuở nhỏ: câu cá, bắt chim, trộm nhãn...gợi hình ảnh một cậu cháu trai với các trò chơi táo tợn, tinh nghịch, nhưng với bà lại nhõng nhẽo, nũng nịu...và vì thế người bà hiện lên thật hiền từ, nhân hậu…

Mải mê với các trò chơi, thú vui người cháu vô tâm đâu biết bà vất vả, cực nhọc thế nào để nuôi mình khôn lớn:
                   " Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế
                    bà mò cua xúc tép ở Đồng Quan
                    bà đi gánh chè xanh Ba Trại
                    Quán cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn"
.

Cuộc sống cực khổ nghèo đói, bà dù già yếu vẫn sẵn lòng bươn chải các nghề để nuôi cháu. Khi như cánh cò lặn lội " mò cua xúc tép", khi trĩu vai gánh hàng bán buôn đêm hôm gió rét. Chỉ với từ láy " thập thững" thần tình, nhà thơ đã gợi lên xúc động hình ảnh người bà chân yếu tay mềm, bước cao bước thấp trên con đường truân chuyên nặng gánh cháu con. Viết đến đây, ta lại nhớ đến nao lòng câu thơ chứa chan nước mắt của Hoàng Cầm:

       "Bên kia sông Đuống

Mẹ già ta lại quẩy gánh hàng rong

Bước cao bước thấp trên bờ tre hun húy

Có con cò trắng bay vùn vụt

Lướt qua dòng sông Đuống về đâu...”

Điều đặc sắc của Nguyễn Duy trong bài thơ chính là thủ pháp đối lập. Đối lập giữa thế giới tâm linh đền thờ miếu mạo với tiên, phật, thánh thần và thế giới thực với người bà tảo tần yêu thương cháu vô điều kiện:

  " Tôi trong suốt giữa hai bờ hư- thực
  giữa bà tôi và tiên, phật, thánh thần(...)
bom Mĩ giội nhà bà tôi bay mất

đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền
thánh với phật rủ nhau đi đâu hết
bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn

Vậy là, những thánh, thần, tiên, phật của cháu trên cõi đời thực chính là bà. Bà là tình yêu, là chỗ dựa, là nguồn sống của cháu. Ấy vậy mà, nhỏ thì vô tư đến vô tâm, còn lớn lên đi lính, lại vì cách trở xa xôi mà vô tình. Khổ cuối nghẹn lại như một tiếng nấc nghẹn ngào rồi vỡ òa trong thức tỉnh:

    " Tôi đi lính lâu không về quê ngoại
dòng sông xưa vẫn bên lở bên bồi
khi tôi biết thương bà thì đã muộn
 bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi
"

Điều thấm thía của người cháu là: vũ trụ là vĩnh hằng, dòng dông quê vẫn chảy, trôi, lở, bồi, còn cuộc đời con người là hữu hạn. Khi còn bà thì không biết trân trọng, yêu thương, thấu hiểu, đến khi bà chỉ còn là nấm mộ thì thương xót bao nhiêu cũng đã muộn màng. Triết lý giản đơn mà sâu sắc khiến mỗi chúng ta ai cũng phải thấm thía giật mình...

Nhan đề là Đò Lèn, mà cả bài không hề nhắc đến con đò...phải chăng, Đò Lèn vừa là địa danh, vừa là hình tượng nghệ thuật biểu tượng cho người bà tảo tần khuya sớm, cho quê hương, cội nguồn, cho những giá trị tinh thần sâu nặng của mỗi người... Và rồi, đành rằng "nước mắt chảy xuôi" nhưng hãy biết trân trọng những người thân yêu của chúng ta ngay trong cuộc đời này, bởi ai mà biết được, thời gian trôi nhanh, đời người ngắn ngủi, đừng để một ngày kia không còn kịp nữa ... lẽ chăng là thông điệp mà Nguyễn Duy gửi gắm.

Giờ học đã qua, mà trong tôi vẫn mãi niềm nhớ thương về "một người mẹ có tên là bà Ngoại" của chính mình, người bà đã khuất bóng cách nay hơn 1 năm...!

                                                                      Đỗ Thị Thu Nga – THPT Tháng 10

Bài viết liên quan